Có ý kiến nhận định: "Trong lịch sử văn học ta có thể nói Nguyễn Du là nhà thơ đã viết được về nỗi đau của con người, nhất là nỗi đau của người phụ nữ như - Tham khảo tin bài Có ý kiến nhận định: "Trong lịch sử văn học ta có thể nói Nguyễn Du là nhà thơ đã viết được về nỗi đau của con người Giới thiệu về Nguyễn Du - mẫu 1. Nguyễn Du (1765 - 1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc thời Lê - Trịnh, quê ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Có câu ca lưu truyền trong dân gian: Bao giờ ngàn Hống hết cây. Sông Rum hết nước, họ này hết quan. Mời quý thầy cô giáo cùng các bạn học sinh tham khảo Bài văn mẫu lớp 12: Phân tích câu thơ Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn được chúng tôi đăng tải ngay sau đây. Tài liệu bao gồm 2 bài văn mẫu hay nhất của các bạn học sinh trên toàn quốc. Phân tích tác phẩm Nhàn – Mẫu 6. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Tuy nhiên khi nhắc đến ông là làm mọi người phải nghĩ đến việc, lúc ông còn làm quan ông đã từng dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám lộng thần nhưng đã không Trong hai câu thơ mở đầu Truyện Kiều của Nguyễn Du: Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau. những từ ngữ nào chủ yếu để nói về sự việc, hiện tượng, còn những từ ngữ nào chủ yếu để biểu hiện thái độ, sự đánh giá của người kể chuyện đối với sự việc, hiện tượng đó. lGaJ. Thơ Nguyễn Du ❤️ Tuyển Tập Trọn Bộ Những Bài Hay Nhất ✅ Các Câu Thơ Thể Hiện Sâu Sắc Và Đầy Ấn Tượng Của Đại Thi Hào Việt Nam. Tuyển Tập Thơ Nguyễn DuThơ Cảnh Ngày XuânBài Thơ Thúy KiềuNhững Câu Thơ Hay Trong Truyện KiềuThơ Chữ Hán Của Nguyễn DuThơ Truyện Kiều Lớp 9Những Câu Thơ Nói Về Truyện KiềuThơ Tình Nguyễn DuBài Thơ Trao Duyên Của Nguyễn DuThơ Nguyễn Du Lớp 10 Dưới đây là tuyển tập một số bài thơ của đại thi hào Nguyễn Du trong tập thơ Bắc hành Tạp lục. Thuyền ra đi trên sông Minh Chiêng trống thùng thùng ra cửa sôngMột thuyền lướt sóng giữa muôn trùngMây tan bất chợt hao gầy núiNước lụt mới về vẩn đục dòngDặm biệt, anh em đà tưởng nhớá chồng, con cháu cứ ngờ trôngHoa Sơn chớ vượt khi chiều xếSợ vẳng bên tai vượn não nùng Mừng xuống khỏi thác Thành khẩn dâng hương vái trước đềnMột thuyền theo nước cứ lênh đênhMừng người rắn cọp không làm dữThích cảnh non sông như đã quenMuôn cụm tùng xanh sư trú ngụMột Hòn Én lạnh khói dâng lênBên song lặng lẽ không gì bậnNghe khúc chài ca, ngó nắng nghiêng êm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang Một dòng nước xẻ núi muôn trùngHai dãy nhìn nhau đá chất chồngVượn hú ngọn cây dường lạc lốiChó kêu rừng thẳm chắc gần thônNúi mây bốn ngả tình cô quạnhHồ Việt chung thuyền mối thiết thânLàng cũ mười năm quên mất hướngQuê nhà nẻo mộng nhớ về thăm 👉Ngoài Tuyển Tập Thơ Nguyễn Du Chia sẻ đến bạn Thơ Thúy Kiều ❤️ Trọn Bộ 3254 Câu Thơ Truyện Kiều Thơ Cảnh Ngày Xuân Mời bạn cùng ngâm qua 1 trích đoạn Cảnh ngày xuân của nhà thơ Nguyễn Du. Ngày xuân con én đưa thoiThiều quang chin chục đã ngoài sáu mươiCỏ non xanh rợn chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông hoaThanh minh trong tiết tháng baLễ là tảo mộ, hội là đạp thanhGần xa nô nức yến oanhChị em sắm sửa bộ hành chơi xuânDập dìu tài tử giai nhânNgựa xe như nước áo quần như nêmNgổn ngang gò đống kéo lênThoi vàng vó rắc tro tiền giấy bayTà à bóng ngả về tâyChị em thơ thẩn dan tay ra vềBước dần theo ngọn phong khêLần xem phong cảnh có bề thanh thanhNao nao dòng nước uốn quanh,Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắt ngang 👉Bên cạnh Thơ Cảnh Ngày Xuân Tặng bạn trọn bộ Bài Thơ Hóa Trị ❤️️ Bài Thơ Tên Nguyên Tố Hóa Học Lớp 8 Bài Thơ Thúy Kiều Đoạn thơ dưới đây là phần đầu của tập truyện Kiều Nguyễn Du được nhiều người nhắc đến nhất. Mời bạn Cùng tham khảo. Trăm năm trong cõi người ta,Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét qua một cuộc bể dâu,Những điều trông thấy mà đau đớn gì bỉ sắc tư phong,Trời xanh quen thói má hồng đánh thơm lần giở trước đèn,Phong tình cổ lục còn truyền sử Năm Gia-tĩnh triều Minh,Bốn phương phẳng lặng hai kinh chữ nhà viên ngoại họ Vương,Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trai con thứ rốt lòng,Vương Quan là chữ nối dòng nho lòng hai ả tố nga,Thúy Kiều là chị em là Thúy cốt cách tuyết tinh thần,Mỗi người một vẻ mười phân vẹn xem trang trọng khác vời,Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở cười ngọc thốt đoan trang,Mây thua nước tóc tuyết nhường màu càng sắc sảo mặn mà,So bề tài sắc lại là phần thu thủy nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém hai nghiêng nước nghiêng thành,Sắc đành đòi một tài đành họa minh vốn sẵn tính trời,Pha nghề thi họa đủ mùi ca thương làu bậc ngũ âm,Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một nhà tay lựa nên xoang,Một thiên Bạc mệnh lại càng não lưu rất mực hồng quần,Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.£m đềm trướng rủ màn che,Tường đông ong bướm đi về mặc ai.… 👉Ngoài Bài Thơ Thúy Kiều của Nguyễn Du bật mí đến bạn Ghen Nguyễn Bính ❤️ Tuyển Tập Thơ, Bài Hát, Phân Tích Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều Dưới đây là chọn lọc top 50 câu thơ hay nhất trong tập truyện Kiều của Nguyễn Du. Cỏ non xanh tận chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông làm vợ khắp người taHại thay thác xuống làm ma không đâu gặp gỡ làm chiTrăm năm biết có duyên gì hay không?Ngổn ngang trăm mối bên lòngNên câu tuyệt diệu ngụ trong tính mình lưỡng lự canh chầyĐường xa nghĩ nỗi sau này mà đong càng khắc càng đầyBa thu dồn lại một ngày dài tương phất phất giò đànHương gây mùi nhớ trà khan giọng chiều như giục cơn sầuVi lô hiu hắt như mầu khơi trăm năm, kể từ đâyCủa tin gọi một chút này làm giờ rõ mặt đôi taBiết đâu rồi nữa chẳng là chiêm vàng giữ ngọc cho hayCho đành lòng kẻ chân mây cuối thề còn đó trơ trơDám xa xôi mặt mà thơ thớt tơ ghét bỏ chi nhauChưa vui sum họp đã sầu chia lòng tử biệt sinh lyThân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến sao đành vậy cũng vầyCầm như chẳng đỗ những ngày còn tay đã sẵn đồng tiềnDù lòng đổi trắng thay đen khó lòng kẻ ở người điLệ rơi thấm đá, tơ chia rũ thân đến bước lạc loàiNhị đào thà bẻ cho người tình ngon kề đến tận nơiVốn nhà cũng tiếc, của trời cũng trường thay lúc phân kỳVó câu khấp khểnh, bánh xe gập con còn nói chi conSống nhờ đất khách, thác chôn quê người .Từ đây góc bể bên trờiNắng mưa thui thủi quê người một lô san sát hơi mayMột trời thu để riêng ai một khuya ngất tạnh, mù khơiThấy trăng mà thẹn những lời non sông. Thoắt trông nhờn nhợt màu daĂn gì to lớn đẫy đà làm ôi tài sắc bậc nàyMột dao oan nghiệt đứt dây phong liều nhắm mắt đưa chânMà xem con tạo xoay vần đến thu khắc lậu, canh tànGió cây trút lá, trăng ngàn ngậm lươn bao quản lấm đầuChút lòng trinh bạch từ sau xin là vui gượng kẻo làAi tri âm đó mặn mà với đày vào kiếp phong trầnSao cho sỉ nhục một lần mới màu trong ngọc trắng ngàDày dày sẵn đúc một toà thiên sao cho trọn thì thươngTính sao cho vẹn mọi đường thì trăng ai xẻ làm đôiNửa in gối chiếc nửa soi dặm lanh đáy nước in trờiThành xây khói biếc non phơi bóng vào phòng cũ lầu thơTro than một đống, nắng mưa bốn phương mây trắng một màuTrông vời cố quốc biết đâu là ngoài thơn thớt nói cườiMà trong nham hiểm giết người không như bấc, nặng như chìGỡ cho ra nợ còn gì là bèo bao quản nước saLênh đênh đâu nữa cũng là lênh thân tránh chẳng khỏi trờiCũng liều mặt phấn cho rồi ngày bây giờ mới thấy đâyMà lòng đã chắc những ngày một thay chút nghĩa cũ càngDẫu lìa ngó ý còn vương tơ bà dễ có mấy tayĐời xưa mấy mặt, đời này mấy trần mài một lưỡi gươmNhững phường giá áo túi cơn sá trời khuấy nước mặc dầuDọc ngang nào biết trên đầu có cung gió thảm mưa sầuBốn dây rỏ máu năm đầu ngón tranh chụm nóc thảo đườngMột gian nước biếc mây vàng chia thờ lúc tỉnh lúc mêMáu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bây giờ là bao giờRõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao. 👉Bên cạnh Những Câu Thơ Hay Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du tiết lộ đến bạn Thơ Huy Cận ❤️️ Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Nhất Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du Gửi đến bạn tham khảo một số bài thơ bằng chữ Hán của Đại thi hào Nguyễn Du dưới đây. Thăng Long đệ nhất thủ Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồngBạch đầu do đắc kiến Thăng LongThiên niên cự thất thành quan đạoNhất phiến tân thành một cố cungTương thức mỹ nhân khan bão tửồng du hiệp thiếu tẫn thành ôngQuan tâm nhất dạ khổ vô thụyoản địch thanh thanh minh nguyệt trung Mạc phủ tức sự Triệt dạ la thanh bất tạm đìnhCô đăng tương đối đáo thiên minhKinh tuần khứ quốc tâm như tửNhất lộ phùng nhân diện tẫn sinhSơn lộc tích nê thâm một mãKhê tuyền phục quái lão thành tinhKhách tình chí thử dĩ vô hạnHựu thị Yên sơn vạn lý hành Hoàng Sào binh mã Đại tiểu Hoa Sơn sổ lý phânHoàng Sào di tích tại giang tânKhởi tri Kim Thống Tấn trung đếNãi xuất Tôn sơn bảng ngoại nhânNgộ quốc mỗ nhân câu hạng lượngCùng thời tự khả biến phong vânViễn lai nghĩ vấn thiên niên sựGiang hộ dao đầu nhược bất văn 👉Ngoài Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du bật mí đến bạn Thơ Công Thức Toán Tiểu Học Hay ❤️️ Dễ Nhớ Nhất Thơ Truyện Kiều Lớp 9 Trong phần ngữ văn lớp 9 các bạn học sinh sẽ được học trích đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều đầy ấn tượng. Cùng ngâm qua đoạn thơ đặc sắc của nhà thơ Nguyễn Du ngay nhé! Mã Giám Sinh mua Kiều Gần miền có một mụ nào,Đưa người viễn khách tìm vào vấn tên, rằng “Mã Giám Sinh”,Hỏi quê, rằng “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.Quá niên trạc ngoại tứ tuần,Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh thầy sau tớ lao xao,Nhà băng đưa mối rước vào lầu trên ngồi tót sỗ sàng,Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra…Nỗi mình nên tức nỗi nhà,Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng!Ngại ngùng dợn gió e sương,Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt càng vén tóc bắt tay,Nét buồn như cúc điệu gầy như đo cân sức cân tài,Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt nồng một vẻ một ưa,Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt “Mua ngọc đến Lam Kiều,Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”Mối rằng “Giá đáng nghìn vàng,Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài!”Cò kè bớt một thêm hai,Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm. 👉Ngoài Thơ Truyện Kiều Lớp 9 tặng bạn top Thơ Nguyễn Bính Hay ❤️ Tuyển Tập Chùm Thơ Nổi Tiếng Nhất Những Câu Thơ Nói Về Truyện Kiều Truyện Kiều là một tác phẩm nổi tiếng của Đại thi hào Nguyễn Du, chính vì vậy mà đã có rất nhiều nhà thơ nói về tuyệt tác này. Vịnh KiềuTản Đà Tiếng trống biên đình bốn phía ranTướng quân chi tiếc cái hoa tànĐôi hàng nước mắt, đôi làn sóngNửa đám ma chồng, nửa tiệc quanTổng đốc ví thương người bạc phậnTiền Đường đâu đã mả hồng nhanBơ vơ nấm đất ven sông đóHồn có nghe chăng một tiếng đàn. Bài thơ đầu Truyện KiềuChu Mạnh Trinh Trời sá ghen đâu khách má hồngĐoạn trường nợ lắm phải đền xong,Hiếu tình chất nặng đôi vai gánh,Thân thế xoay quanh một giấc mòng,Giọt nước sông Tiền oan dễ trắngNgắm trăng hiên Thúy vẻ còn thiên chép để làm gương lạiTrời sá ghen đâu khách má hồng. Kiều bán mìnhNguyễn Khuyến Thằng bán tơ kia dở dói raLàm cho bận đến cụ Viên giàMuốn êm phải biện ba trăm lạngKhéo xếp nên liều một chiếc thoaĐón khách mượn màu son phấn mụBán mình chuộc lấy tội tình chaCó tiền việc ấy mà xong nhỉNgày trước làm quan cũng thế a? 👉Bên cạnh Những Câu Thơ Nói Về Truyện Kiều của Nguyễn Du chia sẻ đến bạn thơ Xuân Diệu Huy Cận ❤️️ Tuyển Tập Thơ Và Những Bí Ẩn Thơ Tình Nguyễn Du Tặng bạn tham khảo một số bài thơ tình nhẹ nhàng của nhà thơ Nguyễn Du đa tài. Độc Tiểu Thanh ký Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,Độc điếu song tiền nhất chỉ phấn hữu thần liên tử hậu,Văn chương vô mệnh luỵ phần kim hận sự thiên nan vấn,Phong vận kỳ oan ngã tự tri tam bách dư niên hậu,Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Long thành cầm giả ca Long thành giai nhân,Bất ký danh thiện huyền cầm,Cử thành chi nhân dĩ cầm đắc tiên triều cung trung “Cung phụng” khúc,Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất tại thiếu niên tằng nhất kiến,Giám Hồ hồ biên dạ khai thời tam thất chánh phương niên,Xuân phong yểm ánh đào hoa nhan hám thái tối nghi nhân,Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ như luơng phong độ tùng lâm,Thanh như chích hạc minh tại như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch,Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt giả mỹ mỹ bất tri quyện,Tận thị Trung Hoà ại Nội Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo,Triệt dạ truy hoan bất tri phao hữu trịch tranh triền đầu,Nê thổ kim tiền thù thảo hoa ý khí lăng công hầu,Ngũ Lăng niên thiếu bất túc tương tam thập lục cung xuân,Hoán thủ Trường An vô giá tịch hồi đầu nhị thập niên,Tây Sơn bại hậu dư Nam xích Long Thành bất phục kiến,Hà huống thành trung ca vũ phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu,Tịch trung ca kỹ giai niên mạt nhất nhân phát bán hoa,Nhan xú thần khô hình lược tạ tàn my bất sức trang,Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất khúc tân thanh ám lệ thuỳ,Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự,Giám Hồ hồ biên tằng kiến quách suy di nhân sự cải,Kỷ độ tang điền biến thương Sơn cơ nghiệp nhất đán tận tiêu vong,Ca vũ không lưu nhất nhân tức bách niên tằng kỷ thì,Thương tâm vãng sự lệ triêm Hà quy lai đầu tận bạch,Quái để giai nhân nhan sắc nhãn trừng trừng không tưởng tượng,Khả liên đối diện bất tương tri. 👉Bên cạnh Thơ Tình Nguyễn Du Tặng bạn trọn bộ Nắng Mới Lưu Trọng Lư ❤️️ Phân Tích Nội Dung Bài Thơ Bài Thơ Trao Duyên Của Nguyễn Du Gửi đến bạn một trích đoạn Trao duyên trong truyện Kiều của nhà thơ Nguyễn Du dưới đây. Trích đoạn Trao duyên Cậy em, em có chịu lời,Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ đường đứt gánh tương tư,Keo loan chắp mối tơ thừa mặc emKể từ khi gặp chàng KimKhi ngày quạt ước, khi đêm chén thềSự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn haiNgày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonChị dù thịt nát xương mònNgậm cười chín suối hãy còn thơm lâyChiếc thoa với bức tờ mâyDuyên này thì giữ, vật này của chungMai sau dù có bao giờ,Đốt lò hương ấy, so tơ phím ra ngọn cỏ lá cây,Thấy hiu hiu gió thì hay chị còn mang nặng lời thề,Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc maiTrăm nghìn gửi lạy tình quân,Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôiPhận sao phận bạc như vôi!Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làngÔi Kim lang! Hỡi Kim lang!Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây 👉Ngoài Bài Thơ Trao Duyên Của Nguyễn Du tặng bạn Thơ Tình Nguyễn Bính Hay Nhất ❤️ Những Bài Thơ Nổi Tiếng Thơ Nguyễn Du Lớp 10 Cùng đọc qua trích đoạn thơ Chí Khí Anh Hùng của Nguyễn Du được học trong chương trình ngữ văn lớp 10. Trích đoạn Chí Khí Anh Hùng Nửa năm hương lửa đương nồngTrượng phu thoắt đã động lòng bốn phươngTrông vời trời bể mênh mangThanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rongNàng rằng Phận gái chữ tòngChàng đi thiếp cũng quyết lòng xin điTừ rằng Tâm phúc tương triSao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?Bao giờ mười vạn tinh binhTiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đườngLàm cho rõ mặt phi thườngBấy giờ ta sẽ rước nàng nghi giaBằng ngay bốn bể không nhàTheo càng thêm bận, biết là đi đâuĐành lòng chờ đó ít lâuChầy chăng là một năm sau vội lời dứt áo ra điGió mây bằng đã đến kì dặm khơi 👉Bên cạnh Thơ Nguyễn Du Lớp 10 tiết lộ đến bạn Thơ Tình Hàn Mạc Tử ❤️️ Chùm Thơ Về Tình Yêu Hay Nhất Trên đây là tuyển tập một số bài thơ ấn tượng của Đại thi hào Nguyễn Du vô cùng đặc sắc! Cảm ơn bạn đã tham khảo tại Tiểu sử Tác phẩm Văn bản Tác phẩm bằng chữ Hán Tác phẩm bằng chữ Nôm Trước năm 1930 Từ 1930 đến 1945 Từ 1945 đến 1975 Từ 1980 đến nay Thơ văn viết về Nguyễn Du trích Trong mắt người nước ngoài Tưởng niệm Chú thích Tham khảo Nguyễn Du阮攸 Tượng đài Nguyễn Du Sinh 3 tháng 1, 1766Bích Câu, Thăng Long Mất 16 tháng 9, 1820 54 tuổiHuế Bút danh Tố Như, Thanh Hiên, Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ Công việc Nhà thơQuan nhà Lê trung hưngQuan nhà Nguyễn Quốc gia Đại Nam Tác phẩm nổi bật Truyện Kiều Nguyễn Du chữ Hán 阮攸; sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766–1820[cần dẫn nguồn] tên tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ 鴻山獵戶, Nam Hải điếu đồ 南海釣屠, là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là "Đại thi hào dân tộc".1 Tác phẩm Truyện Kiều của ông được xem là một kiệt tác văn học, một trong những thành tựu tiêu biểu nhất trong nền văn học trung đại Việt Nam. Tiểu sửTheo một bản gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Nghi Xuân, Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu tức ngày 3 tháng 1 năm 1766 tại phường Bích Câu, Thăng Long. Cha là Nguyễn Nghiễm 1708 - 1775, sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Tư, hiệu Nghị Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ Tể tướng, tước Xuân Quận công. Mẹ là bà Trần Thị Tần 2 24 tháng 8 năm 1740 - 27 tháng 8 năm 1778, con gái một người làm chức câu kế. Bà Tần quê ở làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm kém chồng 32 tuổi sinh được năm con, bốn trai và một gái.3 4 Tổ tiên của Nguyễn Du có nguồn gốc từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam nay thuộc Hà Nội, sau di cư vào Hà Tĩnh, có truyền thống khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm Đinh Hợi 1767, khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận công nên Nguyễn Du thời đó sống trong giàu sang phú Giáp Ngọ 1774, cha Nguyễn Du sung chức tể tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Từ thời gian này Nguyễn Du chịu nhiều mất mát liền kề. Cụ thể, vào năm Ất Mùi 1775, anh trai Nguyễn Trụ sinh năm 1757 qua đời. Năm Bính Thân 1776 thân phụ ông mất. Năm Mậu Tuất 1778 thân mẫu Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần cũng tạ thế. Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều sinh năm 1745 được bổ làm Trấn thủ Hưng Hóa. Mới 13 tuổi, Nguyễn Du mồ côi cả cha lẫn mẹ nên ông phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản hơn ông 31 tuổiNăm Canh Tý 1780, Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn Nhâm Dần 1782, Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận công, Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Quý Mão 1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường Sinh đồ. Ông lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục và ông được tập ấm chức Chánh thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Cũng trong năm này anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Đề sinh 1761 đỗ Giải nguyên khoa thi Hương ở điện Phụng Thiên, và Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham Giáp Thìn Tháng 2 năm 1784, kiêu binh nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá, Nguyễn Khản phải trốn lên ở với em là Nguyễn Điều đang là trấn thủ Sơn Tây. Đến năm 1786 thì Nguyễn Khản bị mắc bệnh rồi chết ở Thăng Kỷ Hợi 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với Tây Sơn, giữ chức Thị lang bộ Lại. Lúc này Nguyễn Du về ở quê vợ Quỳnh Côi, Thái Bình.Tháng mười, năm Tân Hợi 1791, anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh do chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá Quý Sửu 1793, Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Đề đang làm thái sử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Giáp Dần 1794, Nguyễn Đề được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả đồng nghị Trung thư đông năm Bính Thìn 1796, Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng Cảm hứng trong tùMùa thu năm Nhâm Tuất 1802, Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng nay thuộc Hà Nội.Năm Quý Hợi 1803, Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Ất Sửu 1805 ông được thăng Đông các đại học sĩ hàm Ngũ phẩm, tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm Đinh Mão 1807 được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm Mậu Thìn 1808, ông xin về quê Kỷ Tỵ 1809 ông được bổ chức Cai bạ hàm Tứ phẩm ở Quảng BìnhNăm Quý Dậu 1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ hàm Chính tam phẩm và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ hàm Tòng nhị phẩm.Năm Bính Tý 1816, anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Canh Thìn 1820 Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch 16 tháng 9 năm Canh Thìn 1820 lúc 54 Giáp Thân 1824, di cốt của ông được cải táng về quê nhà là làng Tiên Điền, Hà Tĩnh5 .Đại Nam thực lục chép về Nguyễn Du Du là người Nghệ An, học rộng giỏi thơ, càng giỏi về Quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói Đại Nam liệt truyện chép Du là người ngạo nghễ tự phụ, mà bề ngoài tõ ra kính cẩn, mỗi khi vào yết kiến, sợ hãi như không nói Người đời sau, như ý kiến của các ông Trịnh Vân Định, Trần Nho Thìn cho đó là một cách khéo léo để giữ toàn mạng và thăng tiến trong thời loạn, mặc dù trong văn thơ của Nguyễn Du thường đề cao những anh hùng thời loạn, nhưng ông chọn cách sống khác, cống hiến nhưng "ẩn dật" trong chốn quan Tác phẩmQua các tác phẩm của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành... nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả, là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện Kiều, đã cho thấy, thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện trên cơ sở này, mà trong thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của bức tranh hiện thực đa dạng. Và giữa những âm thanh, màu sắc, đường nét vô cùng phong phú đó, Nguyễn Du hiện ra vừa dạt dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận. Đây là chỗ đặc sắc và cũng là chỗ tích cực nhất trong nghệ thuật của Nguyễn Du. Từ thơ chữ Hán đến Truyện Kiều, nó tạo nên cái sức sống kỳ lạ ở hầu hết tác phẩm của Văn bảnSáng tác của Nguyễn Du được lưu hành ngay từ lúc ông còn sống. Tương truyền, Truyện Kiều được Phạm Quý Thích nhuận sắc và cho in ở phố Hàng Gai Hà Nội lúc ấy. Sau khi Nguyễn Du mất chỉ vài chục năm, vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh. Từ đó đến nay, việc sưu tập, nghiên cứu phổ biến di sản văn học của Nguyễn Du vẫn còn tiếp tục. Còn có những ý kiến hồ nghi tác giả một số bài thơ chữ Hán vẫn được coi là của Nguyễn Du. Việc xác định thời điểm ra đời của các tác phẩm chưa được giải quyết, kể cả thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều. Mặc dù đã mất nhiều công sức, nhưng các ý kiến trong giới nghiên cứu vẫn còn rất khác Tác phẩm bằng chữ HánTheo gia phả họ Nguyễn Tiền Điền, thì Nguyễn Du để lại ba tập thơ chữ Hán Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp năm đầu thế kỷ XX, khi biên soạn cuốn Truyện cụ Nguyễn Du, các cụ Lê Thước và Phan Sĩ Bàng đã thu thập được một phần lớn những bài thơ đó, nhưng chưa công bố, chỉ mới trích dẫn một số bài lẻ tẻ mà thôi. Khoảng năm 1940-41, ông Đào Duy Anh lại làm công việc đó một lần nữa. Ông cho chúng ta biết tình hình như sauBa tập thơ chữ Hán chính họ Nguyễn Tiên Điền cũng không giữ được tập nào. Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mới được ba nhà nho là Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du Nhà xuất bản Văn hóa, 1959 chỉ gồm có 102 bài. Đến năm 1965 Nhà xuất bản Văn học đã ra Thơ chữ Hán Nguyễn Du tập mới do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp, gồm 249 bài như sauThanh Hiên thi tập Tập thơ của Thanh Hiên gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn. Tập thơ được sáng tác trong ba gia đoạnGiai đoạn "Mười năm gió bụi", từ năm 1786, năm Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà, cho đến năm Nguyễn Du trở về quê nhà ở Hồng Lĩnh, khoảng cuối những năm 1795 đầu năm đoạn "Dưới chân núi Hồng", từ năm 1796 đến năm 1802Giai đoạn 3 "Ra làm quan ở Bắc Hà", từ năm 1802 đến cuối năm 1804 trong giai đoạn này có lần nhà thơ được cử đi nghênh tiếp sứ thần nhà Thanh sang phong sắc cho Gia Long.Nam trung tạp ngâm Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam gồm 40 bài thơ làm từ năm 1805 đến cuối năm 1812, tức là từ khi được thăng hàm đông các học sĩ vào làm quan ở Kinh gần 4 năm cho đến hết thời kỳ làm cái cai bạ dinh Quảng Bình 3 năm, 5 tháng. Ông viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà đầu tập thơ, Phượng hoàng lộ thượng tỏa hành, đúng là bài làm trên đường đi vào Kinh nhậm chức Từ tỉnh lỵ Hà Tĩnh đi vào có núi Phượng Hoàng và quán Phượng hoàng, và bài Nễ giang khẩu hương vọng, gần cuối tập, có câuĐộc bão hương tâm dĩ tứ niênÔm nỗi nhớ quê đã bốn năm trời.Như vậy là rất khớp. Bắc hành tạp lục Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc. Chúng tôi có theo dõi cuộc đi xứ này trên bản đồ theo những tài liệu mà các phái đoàn của ta gần đây đi tham quan Trung Quốc tìm được và đã đối chiếu với các bài thơ, thì thấy cách sắp xếp các bài thơ đã ổn. Bài Thăng Long tháng 2 năm 1813 và bài cuối tập là bài Chu Phát làm khi trở lại. Võ Xương cuối năm 1813. Từ đó, nhà thơ lên thuyền về Nam quan theo con đường đã đi lần trước, nên không có thơ nữa. Chỉ có một vài bài còn Cối, Vương thị vợ Tần Cối, không ở chỗ thích đáng của nó, làm ta ngờ rằng nhà thơ nhân nhớ đến những nhân vật đó mà làm thơ, chứ không phải tức cảnh sinh tình như tuyệt đại đa số các bài trong tập này. Trường hợp này giống trường hợp bài Độc Tiểu Thanh ký số 78 Thanh hiên thi tập, bài này không phải làm khi nhà thơ đi qua mộ Tiểu Thanh ở Tây Hồ, mà làm khi còn ở nhà, nên không ở trong Bắc hành tạp cách sắp xếp đó có thể hiểu được tâm sự của Nguyễn Du trong từng giai đoạn. Có thể xem ba tập thơ này là ba tập nhật ký ghi trong một khoảng thời gian dài, từ năm nhà thơ 21 tuổi 1786 cho đến năm nhà thơ 49 tuổi 1814, trước lúc chết 5 năm. Bài thơ nào cũng chứa đựng một lời tâm sự. Ngay những bài tức cảnh vịnh sử khi đi sứ Trung Quốc cũng không phải là những bài tức cảnh, vịnh sử thuần túy mà đều có bao hàm tâm sự của nhà thơ, bộc lộ thái độ sống của nhà thơ một cách hết sức rõ thơ 249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một công trình tập thể đã được Cụ Lê Thước và Trương Chính thu thập tài liệu, dịch nghĩa, chú thích, sắp xếp. Tác phẩm bằng chữ NômVề văn thơ nôm, Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc lục bát và song thất lục bát. Ông đã làm mới ngôn ngữ văn học Tiếng tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Du gồm cóNguyễn Du lưu lại trong kho tàng văn học Việt Nam thiên trường thi bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh được truyền tụng trong dân gian và được liệt vào tài liệu giáo khoa dạy ở bậc trung học. Đoạn Trường Tân Thanh là áng văn chương tuyệt tác, viết theo thể thơ lục bát gồm 3254 câu, dài nhất trong các tác phẩm xưa trường tân thanh Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc. Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học bộ mới ghi "Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc 1814-1820, có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình 1804-1809. Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn".Ngoài ra, Văn chiêu hồn tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa Văn tế mười loại chúng sinh, là một ngâm khúc gồm có 184 câu theo thể song thất lục bát, trong đó chứa đựng tấm lòng từ bi của người Phật tử Nguyễn Du đối với cảnh khổ của muôn vạn sinh linh, cũng là một tác phẩm giá trị được nhiều học giả nghiên cứu, trích giảng. hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình 1802-1812.Thác lời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải Nôm của Nguyễn Du đều thấy chỗ đậm, chỗ nhạt những yếu tố hoặc biểu hiện của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực trong văn học. Các tác phẩm thơ Nôm của ông đều thể hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương bất hủ là Truyện Kiều. Trước năm 1930Trong quãng thời gian hơn một trăm năm này, người bình luận các tác phẩm của Nguyễn Du là các nhà nho. Ở thế kỷ XIX, các nhà nho thường qua những bài thơ vịnh, những bài tựa mà bộc lộ cách nhìn, chính kiến của mình với tác phẩm. Sang thế kỷ XX, các nhà nho lại phát biểu bằng những bài văn chính luận. Nhưng bình luận ở giai đoạn nào họ cũng đều chia làm hai dòng khen và chê. Tuy nhiên, dù khen hay chê thì tất cả họ đều đánh giá cao nghệ thuật văn chương của Nguyễn Du. Nhưng văn chương được nhìn như có sự tách rời của hình thức với nội dung. Từ 1930 đến 1945Nghiên cứu phê bình văn học thời gian này đã thành một bộ môn riêng biệt, mang ý nghĩa hiện đại. Các tác phẩm của Nguyễn Du trong giới nghiên cứu, phê bình thấy rõ ba khuynh hướng sau Khuynh hướng phê bình ấn tượng chủ quan với các ông Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư Khuynh Hướng giáo khoa qua những công trình của các ông Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm Cách tiếp cận kiểu khoa học của ông Nguyễn Bách Khoa Từ 1945 đến 1975Trong giai đoạn chia đôi đất nước này, tại miền Bắc, việc nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Du trong quan hệ với hiện thực đời sống xã hội theo quan điểm mỹ học mácxít. Tác phẩm văn học được nhìn nhận như là sự phản ánh đời sống xã hội và bộc lộ thái độ của nhà văn đối với hiện thực đó. Hai công trình theo hướng này xuất hiện sớm và đáng chú ý hơn cả là cuốn Quyền sống của con người trong "Truyện Kiều" của Hoài Thanh 1949 và bài báo Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung "Truyện Kiều" của Đặng Thai Mai 1955. Vấn đề tinh thần nhân đạo và tính hiện thực của "Truyện Kiều" được hai tác giả chú ý đặc biệt và coi là giá trị cơ bản của tác miền Nam, thời kỳ 1954–1975 cũng có nhiều người để tâm phê bình nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Du. Dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du trên các tập san Văn số 43, 44 và Bách khoa thời đại số 209 nhiều bài phê bình được công bố. Trước đó, năm 1960, có cuốn Chân dung Nguyễn Du tập hợp một loạt bài viết về Nguyễn Du của nhiều tác giả. Trước sau năm 1970 cũng thấy một số công trình khá công phu của Phạm Thế Ngũ, Đặng Tiến, Nguyễn Đăng Thục... Từ 1980 đến nayTrong giai đoạn này, các tác phẩm của Nguyễn Du được tiếp cận bởi nhiều phương pháp mới phong cách học, thi pháp học, ký hiệu học... Đã xuất hiện một số công trình đáng chú ý của Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu...Nhìn chung các tác giả đều cố gắng khách quan hóa việc phân tích tác phẩm, muốn làm cho các kết kuận của mình là hiển nhiên, "không còn tranh cãi". Tuy vậy mọi việc không đơn giản, các ý kiến vẫn cứ rất xa nhau, điều đó có nghĩa là những cuộc tranh luận sẽ vẫn tiếp diễn và như vậy nghiên cứu, phê bình về các tác phẩm của Nguyễn Du sẽ tiếp tục tiến tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về khối lượng, nhưng có vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học và văn hóa dân tộc. Hơn nữa nó lại rất năng sản. Từ Truyện Kiều đã nảy sinh biết bao những hình thức sáng tạo văn học và văn hóa khác nhau thơ ca về Kiều, các phóng tác Truyện Kiều bằng văn học, sân khấu, điện ảnh; rồi rất nhiều những dạng thức của nghệ thuật dân gian đố Kiều, giảng Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều... Đặc biệt là số lượng rất lớn những bài bình luận, những công trình phê bình, nghiên cứu. Thơ văn viết về Nguyễn Du tríchKhi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặcNguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành vănKhi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa BắcHưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng – Chế Lan ViênTiếng thơ ai động đất trờiNghe như non nước vọng lời ngàn thu Nghìn năm sau nhớ Nguyễn DuTiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố HữuĐời nay đẹp gấp trăm lần thuở trướcGiở trang Kiều còn rung động ý thơThơ Người mãi sống cùng đất nướcDù mai sau dù có bao giờ Thăm mộ cụ Nguyễn Du - Hoàng Trung Thông Trong mắt người nước ngoàiNguyễn Du là một nhà thơ văn lớn của thế giới lúc bấy mắt những người nước ngoài, họ coi ông là một vị thánh của nền thơ ca Việt Nam. Họ quý trọng ông vì ông đã góp công vào nền thơ ca thế giới. Ông là một nhân vật kiệt xuất của thơ ca Việt Nam Tưởng niệmNgày 17/11/2015, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức họp báo giới thiệu về các hoạt động kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông. Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 250 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du 1765-2015 diễn ra ngày 05/12/2015 tại thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà với chương trình nghệ thuật “Tiếng thơ ai động đất trời” do Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chỉ đạo và Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam thực hiện với sự tham gia của gần 650 nghệ sĩ12 Lễ kỷ niệm có các chuỗi hoạt động chính Tổ chức các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; xuất bản Truyện Kiều, các tác phẩm của Nguyễn Du ra nhiều thứ tiếng khác nhau; xây dựng phim tư liệu, các tác phẩm âm nhạc, hội họa… về thời đại, cuộc đời, sự nghiệp, tác phẩm của Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, thi ngâm Kiều, lẩy Kiều, bình Kiều, diễn trò Kiều, nói chuyện về tác phẩm của Nguyễn Du; tổ chức các hoạt động hưởng ứng kỷ niệm tại Thủ đô Hà Nội là nơi sinh và tại tỉnh Bắc Ninh quê mẹ của ông; tuần Văn hóa, Du lịch Nguyễn Du, bắt đầu từ ngày 28/11 đến 05/12/2015 tại Hà cạnh đó, từ 17/11 đến 25/11/2015 tại Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra Tuần triển lãm về Nguyễn Du do Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam tổ chức. Triển lãm quy tụ tương đối đầy đủ các ấn bản bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán, chữ Nôm những sáng tác của Nguyễn Du cũng như các công trình nghiên cứu, biên khảo, chú thích về Nguyễn Du của nhiều lớp học giả. Điểm nhấn của triển lãm là những bản Nôm gốc như bản in Kim Vân Kiều tân tập năm Bính Ngọ, niên hiệu Thành Thái - 1906, bản chép tay Kim Vân Kiều thích chú Kỷ Mão 1879. Ngoài ra, còn có 20 bức thư pháp của các thành viên Chi hội Thư pháp Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ được trưng bày với nội dung là những trích đoạn các sáng tác của Nguyễn Du Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh….13 Chú thích ^ “Long trọng Kỷ niệm 250 năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du”. Báo điện tử Dân Trí. Truy cập 23 tháng 5 năm 2017. ^ Theo "Tuyển tập Trương Chính" Nhà xuất bản Văn học 1997. Bà Tần là vợ trắc thất hàng thứ ba, bà sinh ngày mồng 6 tháng 7 năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Hưng. Bà lấy chồng năm 16 tuổi, năm 17 tuổi bà sinh con đầu lòng là Nguyễn Trụ 1757, sau bà còn có năm bà khác nữa ^ Từ điển văn học bộ mới, tr. 1120. ^ Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, nxb Giáo dục, 2002, tr 27 ^ Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục, 2002, tr 27-30. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, tr. 82-83. Dẫn lại tại [1] ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, tập 2, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 357. Dẫn lại tại [2] ^ Trịnh Văn Định, Những cách thế lựa chọn của kẻ sĩ tinh hoa trong lịch sử, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 29, số 2 2013, trang 10-18 ^ Nguyễn Huệ Chi, Tạp chí Văn học, tháng 11-1966Nguyễn Du-Về tác gia và tác phẩm ^ Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, nxb Giáo dục, 2002, trang 11-12 ^ “Nhiều hoạt động kỷ niệm 250 ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du”. ^ “650 nghệ sĩ tham gia đêm nghệ thuật kỷ niệm 250 năm Ngày sinh Nguyễn Du”. ^ “Hoạt động Kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du”. Tham khảo Từ điển văn học bộ mới. Nhà xuất bản Thế giới, 2004. Thơ chữ Hán Nguyễn Du phần giới thiệu của Trương Chính. Nhà xuất bản Văn học, 1978 Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên Quyển 2. Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1963. Thạch Trung Giả, Văn học phân tích toàn thư. Nhà xuất bản Lá Bối, 1973. Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam quyển Thượng. Nhà xuất bản Trình Bày, Sài Gòn, 1967. Nguồn Wikipedia Nguyễn Du là một tài năng thế kỷ của văn chương, ông đã tự kiến tạo nên thế giới nghệ thuật riêng trong các tác phẩm của mình, bằng sự tài hoa và tấm lòng nhân đạo, đại thi hào đã để lại cho hậu thế vô vàn những thi phẩm trác tuyệt. Sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan, cuộc đời Nguyễn Du đi qua không biết bao nhiêu sóng gió nhưng chính nhờ những truân chuyên ấy đã hun đúc nên một tấm lòng nhân đạo chủ nghĩa lớn và tạo ra kiệt tác Truyện Kiều danh lưu bốn phía, tiếng truyền muôn đời. Nguyễn Du và tuổi thơ đầy mất mát đau thương trong gia đình quyền quý Đại thi hào tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên sinh năm Ất Dậu tại làng Tiên Đình, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình quý tộc nhiều đời làm quan lớn dưới triều vua Lê – chúa Trịnh và có truyền thống yêu thích văn chương, sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Du đã khởi nguồn từ truyền thống gia đình. Nguyễn Du là viên ngọc quý của văn đàn việt Nam Thuở nhỏ, cha của ông là Nguyễn Nghiễm đã làm quan đến chức quan tể tướng, trong lần cùng Hoàng Nguyễn Phúc dẫn quân đi đánh chúa Nguyễn ở đàng Trong đã lâm vào trận bạo bệnh và từ trần trong lúc dưỡng thương ở quê nhà, khi ấy Nguyễn Du vừa lên chín tuổi. Đến năm mười hai tuổi, thân mẫu của ông là bà Trần Thị Tần cũng qua đời, Nguyễn Du từ thuở nhỏ đã chịu cảnh mồ côi cha mẹ và phải sống chung với người anh khác mẹ hơn ông 31 tuổi là Nguyễn Khản, đương là trấn thủ Sơn Tây. Sau đó không lâu, anh của Nguyễn Du bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý và phải chịu giam cầm ở nhà Châu quận công, ông được người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tấn nhận nuôi và đến ở tại Sơn Nam Hạ. Tuổi thơ của Nguyễn Du hầu như đều gắn liền với mất mát và đau thương, phải chứng kiến quá nhiều sự li biệt và cái chết của người thân đã phần nào ảnh hưởng sâu sắc đến ông cũng như đời thơ sau này. Mười năm gió bụi đã tạc nên một đời văn vĩ đại Được Đoàn Nguyễn Tấn nuôi ăn học, Nguyễn Du đã đỗ Tú tài trong kì thi Hương ở Sơn Nam năm Quý Mão rồi lấy Đoàn Thị Huệ, con gái quan Ngự Sử Đoàn Nguyễn Thục làm vợ và mở ra những năm tháng lưu lạc đầy sóng gió nơi đất Bắc. Mười năm gió bụi đã hun đúc nên một tài năng thế kỷ Nguyễn Du gọi mười năm đó là thập tải phong trần mười năm gió bụi, chính những năm tháng này đã làm nên tấm lòng nhân đạo chủ nghĩa lớn của nhà thơ để đến muôn đời sau khi đọc lại những áng thơ của đại thi hào, người ta vẫn luôn cảm nhận được như có máu nhỏ trên ngọn bút, nước mắt sa trên tờ giấy. Sống trong cảnh lang bạt nơi xứ lạ trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề, Nguyễn Du cũng từng nhiều lần trầm mặc chua xót cho cuộc đời chính mình chưa làm nên công danh đã rơi vào ngõ cụt và thầm xót xa cho thảm kịch mà gia đình ông phải gánh chịu. “Mười năm trọn quê người nấn ná Nương quê người tóc đã điểm sương.” – U cư Trong mười năm lưu lạc ở quê vợ ấy, Nguyễn Du sống gần gũi với nhân dân và thấm thía bao nỗi cơ cực mà tầng lớp bình dân thấp cổ bé họng phải chịu đựng thời bấy giờ. Ông thấu cảm cho bao nỗi ấm lạnh của nhiều mảnh đời bất hạnh và chính những nỗi niềm ấy đã để lại trong tâm hồn đại thi hào những luồng sáng quý giá của tư tưởng sâu sắc. Về sau, nhờ mười năm gió bụi này mà Nguyễn Du đã cho ra đời không ít danh tác cảm động lòng người như Long thành cầm giả ca, Độc Tiểu Thanh ký hay Văn tế thập đại chúng sinh. Tấm lòng cao cả của Nguyễn Du đã làm nên những kiệt tác để đời Mỗi tác phẩm của ông đều hướng về một thân phận bất hạnh nào đó, chính những nỗi thấu cảm mà đại thi hào dành cho con người đã hun đúc nên một tài năng của thế kỷ. Nỗi trăn trở lớn nhất của đại thi hào Ở thi phẩm Độc Tiểu Thanh ký, sau nỗi thấu cảm mà Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh, người phụ nữ tài sắc nhưng bạc mệnh sống cách ông ba thế kỷ dưới thời nhà Minh, đại thi hào đã tự vấn lòng mình rằng liệu sau ba trăm năm lẻ nữa liệu người đời có ai sẽ nhớ và thương cho nỗi đau của Nguyễn Du như ông đã từng thương cho Tiểu Thanh hay không. “Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khắp Tố Như.” – Độc Tiểu Thanh ký Sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan, cuộc đời Nguyễn Du đi qua không biết bao thương hải tang điền nhưng đâu mới thực sự là nỗi đau lớn nhất cuộc đời ông? Đó là đau thương khi gặp cảnh gia đình ly tán, nỗi cảm thông day dứt với những kiếp người bất hạnh không chốn dung thân hay điều gì khác đã khiến đại thi hào phải trăn trở cả đời vẫn là một ẩn số ít ai biết đến. Người xưa quan niệm Tôi trung không thờ hai chúa, một quan thần trung quân ái quốc sẽ không thờ hai vua nhưng Nguyễn Du lại làm quan hai triều, trước là quan dưới nhà Lê, sau là quan của nhà Nguyễn. Thể xác Nguyễn Du nằm lại với đất nhưng linh hồn ông vẫn sống mãi trong lòng người Dù ở triều đại nào ông cũng làm quan lớn và cống hiến rất nhiều cho nước nhà nhưng điều này vẫn luôn là nỗi trăn trở day dứt trong lòng Nguyễn Du, đó là một niềm đau với chí làm trai của người nam nhi lúc đương thời. Gia tộc của ông cả sáu đời đều làm quan dưới triều vua Lê – chúa Trịnh, cha Nguyễn Du từng phò chúa Trịnh Doãn lên ngôi và mang quân đánh dẹp đất Bắc, với những chiến công hiển hách trải dài gần nghìn năm ấy của dòng tộc họ Nguyễn, dân gian đã lưu truyền lại bằng đôi câu thơ “Bao giờ Ngàn Hống hết cây, Sông Rum hết nước, nhà này hết quan.” Tuy nhiên, Ngàn Hống cây vẫn xanh, sông Rum nước vẫn chảy mà nhà họ Nguyễn đã đến ngày suy vong, Nguyễn Du sức hèn không làm nên chuyện lớn cứ thế nhìn gia tộc sụp đổ và từng người thân ngã xuống trong thảm kịch của chiến tranh. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi lập nên nhà Tây Sơn, ông đã có ý định chiêu mộ nhân tài nhà Lê về làm quan với mục đích hàn gắn những nứt vỡ của hai miền từ trăm năm nay. Tuy nhiên xã hội đương đời đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng của Nho Giáo, vì thế những người tài của nhà Lê hoặc lui về ở ẩn hoặc liều mình trung hưng triều xưa. Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều lưu danh thiên cổ Đối với Nguyễn Du, ông lựa chọn cách đầu tiên, không màng thế sự khói lửa và cuộc đua tranh của những thế lực phong kiến, nhà thơ lui về ở ẩn và phó mặc cho số phận chỉ định tương lai đời mình. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân Để xem con tạo xoay vần đến đâu.” – Truyện Kiều Tuy nhiên, cuối cùng nhân tài như Nguyễn Du cũng không thoát khỏi tầm mắt của Gia Long Nguyễn Ánh, nhà vua từng nhiều lần cho người mời ông về làm quan song đều bị từ chối, tuy nhiên không vì thế nhà Nguyễn mất đi kiên nhẫn, chỉ khi Nguyễn Du chấp nhận thì Gia Long mới cho dừng việc chiêu mộ. Dưới triều nhà Nguyễn, đại thi hào thăng quan tiến chức nhanh như diều gặp gió và từng nhiều lần được cử đi sứ sang nhà Thanh song trong lòng Nguyễn Du vẫn luôn chấp niệm nhà Lê và sáu đời quan huy hoàng của gia tộc mình. Chính điều này đã trở thành nỗi day dứt đeo bám ông suốt cuộc đời, cũng vì vậy mà khiến cho vua Nguyễn không hoàn toàn tin tưởng Nguyễn Du hay nói đúng hơn là Gia Long chưa bao giờ tín nhiệm tuyệt đối với các sĩ phu Bắc Hà vẫn luôn sục sôi trong lòng ý niệm trung hưng triều cũ. Đại thi hào Nguyễn Du và cuộc đời lắm nỗi truân chuyên sóng gió Dù trong lòng luôn chấp nhất với triều Lê nhưng Nguyễn Du vẫn hoàn thành đúng sứ mệnh của một quân thần nhà Nguyễn, tên tuổi của ông gắn liền với vô số công lao hiển hách đã giúp cho nước nhà này một phát triển. Ngoài tài văn chương thi phú thì những cống hiến cũng là điểm sáng nổi bật giúp Nguyễn Du trở thành Danh nhân văn hóa thế giới. Vì luôn sống với nỗi trăn trở khôn nguôi không người giãi bày ấy mà Nguyễn Du chưa bao giờ ngừng hy vọng sẽ có người hiểu ông, hậu thế ba trăm năm sau sẽ thấu cảm cho kiếp người tài hoa của Nguyễn Du như đại thi hào đã từng cảm thông cho Tiểu Thanh. Không cần đến ba thế kỷ sau cũng đã có rất nhiều thi sĩ hiện đại nói riêng và nhân dân nói chung thương xót ông, họ luôn thấu cảm cho kiếp người tài hoa nhưng lại bị trời xanh lưu đày đến cùng đường tuyệt lộ và phải chịu những nỗi đau không ai hiểu thấu. “Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời ngàn thu Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.” – Tố Hữu Nguyễn Du là người tài nhưng lại phải sống cả đời trong đau thương do những số phận mang lại, chính vì vậy mà tài hoa bạc mệnh đã trở thành đề tài chủ chốt trong thi ca của ông, đại thi hào thương người và cũng tự thương cho chính cuộc đời mình. Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều lưu danh thiên cổ Gắn liền với tên tuổi của đại thi hào lúc đương thời là danh tác Đoạn Trường Tân Thanh, đó là tiếng kêu thanh tân về một nỗi đau xé lòng của những phận người bạc mệnh còn vang vọng đến hậu thế trăm năm sau dưới cái tên Truyện Kiều. Nguyễn Du được công nhận là danh nhân văn hóa thế giời Tác phẩm bằng giá trị nhân văn sâu sắc đã vượt qua mọi sự băng hoại của thời gian và trở thành bản trường ca đi cùng năm tháng, đến thời điểm hiện tại, Truyện Kiều vẫn neo đậu vững chắc trong lòng hàng triệu người độc bởi sức sống mãnh liệt lay động hồn người. Mặc dù vẫn còn rất nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh nội dung của tác phẩm song khi bàn về nghệ thuật của Truyện Kiều, không ai có thể đưa ra lời chê trách nào bởi những thủ pháp, ngôn ngữ và giọng điệu mà Nguyễn Du sử dụng trong thi phẩm đã đạt đến trình độ mà hầu như không ai với tới. “Người đọc xưa nay vẫn xem Truyện Kiều như một hòn ngọc quý cơ hồ không thể thay đổi, thêm bớt một tí gì, như một tiếng đàn lạ gần như không một lần lỡ nhịp ngang cung”. – Hoài Thanh Kiệt tác Truyện Kiều là ngôi sao sáng trên bầu trời văn chương Việt Nam, không chỉ ở nội dung nhân đạo mà còn là nghệ thuật đỉnh cao không tài năng nào đuổi kịp. Nguyễn Du là ngôi sao sáng trên bầu trời văn chương Việt nam Thi phẩm là tấm gương lớn đặt giữa xã hội đương thời để người đọc soi vào đó mà thấy được một xã hội suy đồi về đạo đức, hủ lậu trong nhân tính và đồng tiền xoay tròn trên lương tâm con người như thế nào, cũng chính từ sự suy thoái ấy mà biết bao phận người đã bị đẩy vào cùng đường tuyệt lộ. Truyện Kiều là một tiếng kêu than, một ước mơ về công lý và cũng là một cái nhìn bế tắc mà Nguyễn Du giành cho số phận của những nhân vật trong truyện cũng như cho chính cuộc đời mình. Ngoài Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng để lại cho đời sau không ít tác phẩm hay, điển hình như các tập thơ cả chữ Hán lẫn Nôm là Thanh Hiên thi tập, Bắc Hành tạp lục, Nam Trung tạp ngâm và rất nhiều thi phẩm khác. Tài năng của Nguyễn Du đã tạc vào lòng thế kỷ văn chương một dấu ấn không bao giờ phai nhạt, bằng tấm lòng nhân đạo cao cả và sự tài hoa của mình, đại thi hào đã đưa đất nước hóa thành văn. Diệu Uyển Thơ Nguyễn Du ❤️️ Tác Giả, Tác Phẩm + Tuyển Tập Thơ Hay Nhất ✅ Tổng Hợp Các Thông Tin Quan Trọng Về Cuộc Đời, Sự Nghiệp Sáng Tác Của Nguyễn Du. Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Nguyễn Du Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Nguyễn Du Phong Cách Sáng Tác Của Nguyễn Du Nguyễn Du Được Mệnh Danh Là Gì Tuyển Tập Các Tác Phẩm Của Nhà Thơ Nguyễn Du 15 Bài Thơ Hay Nhất Của Nguyễn DuĐộc Tiểu Thanh KýNgẫu Thư Công Quán BíchSơn Cư Mạn HứngU Cư Kỳ 1U Cư Kỳ 2Dạ ToạBiện GiảHá Than Hỷ PhúVị Hoàng DoanhMy Trung Mạn HứngĐối TửuSơn ThônKhổng Tước VũChu Lang MộTruyện Kiều – Hồi 01 Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Nguyễn Du Nguyễn Du là một thiên tài văn học, nhà nhân đạo, chủ nghĩa, danh nhân văn hoá nổi tiếng. Ông đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học Việt Nam. Sau đây hãy cùng tìm hiểu chi tiết về Nguyễn Du thông qua phần khái quát tiểu sử cuộc đời dưới đây nhé! Nguyễn Du 3/1/1766 – 18/8/1820 tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ, là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt Nguyễn sơ ở Việt Nam. Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa Trịnh. Đó là một gia đình có truyền thống yêu chuộng văn chương và nghệ thuật. Ông quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời thơ ấu ở Thăng Long. Năm Quý Mão 1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường Tú tài. Mùa Đông năm Bính Thìn 1796, Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. Sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Năm 1803, Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long. Năm 1805, ông được thăng Đông các học sĩ, tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm 1807, ông được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm 1808, ông xin về quê nghỉ. Năm 1809, ông được bổ chức Cai bạ hàm Tứ phẩm ở Quảng Bình. Năm 1813, ông được thăng Cần chánh điện học sĩ chính Tam phẩm và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814, ông đi sứ về, được thăng Lễ bộ hữu Tham tri tòng Nhị phẩm. Năm 1816, anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Nam. Năm 1820 Canh Thìn Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 năm Canh Thìn 18-9-1820 thọ 54 tuổi. Chia sẻ thêm về 🌿Thơ Chính Hữu 🌿Ngoài Thơ Nguyễn Du Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Nguyễn Du Nguyễn Du là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam. Có nhiều năm cầm bút, Nguyễn Du để lại cho nền văn học Việt Nam một khối lượng tác phẩm đồ sộ với những tác phẩm kiệt xuất, ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển. Sáng tác bằng chữ Hán gồm ba tập thơ là Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc Hành tạp lục. Sáng tác bằng chữ Nôm Đoạn trường tân thanh thường gọi là Truyện Kiều, Văn chiêu hồn Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo lỗi lạc với tấm lòng sâu sắc, bao dung, đồng thời ông đã dùng ngòi bút phê phán hiện thực mạnh mẽ, sắc bén. Đoạn trường tân thanh, thường được biết đến với cái tên đơn giản là Truyện Kiều là một truyện thơ của đại thi hào Nguyễn Du. Đây được xem là truyện thơ nổi tiếng nhất và xét vào hàng kinh điển trong văn học Việt Nam, tác phẩm được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát, gồm 3254 câu. Tác phẩm Truyện Kiều có thể nói là đỉnh cao của ngôn từ Việt, sự kết tinh từ những tinh hoa nhất của văn học Việt Nam. Người ta vẫn thường nói truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn. Bởi vậy Nguyễn Du là đại diện xuất sắc cho nên văn học nước nhà. Những sáng tác của Nguyễn Du là sự kết tinh những thành tựu chữ Hán và chữ Nôm của dân tộc, tổng hợp tinh hoa của nhiều thể loại văn học để sáng tác Truyện Kiều. Nguyễn Du đã có công lớn trong việc đưa ngôn ngữ văn học Tiếng Việt lên trình độ điêu luyện, cổ điển. Từ đó ông đáng được suy tôn danh hiệu Đại thi hào dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới. Phong Cách Sáng Tác Của Nguyễn Du Các tác phẩm của Nguyễn Du đều thể hiện tư tưởng, tình cảm, nhân cách của chính ông. Dưới đây là phần tổng quát về phong cách sáng tác của Nguyễn Du. Sống trong cuộc đại chiến khi đất nước hoạn nạn và gặp nhiều khó khăn, thơ văn Nguyễn Du phản ánh khái quát được bản chất tàn bạo của xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Bằng ngòi bút sắc bén ông đã vẽ ra cho chúng ta thấy sự bất công, chà đạp lên người lao động, quyền sống của con người. Là một người có đủ nghề cầm, kỳ, thi, họa ông đã khắc lên một bức tranh đầy cảm xúc cho người đọc bằng tình thương, đề cao quyền sống, quyền tự do và khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội trọng nam của triều đại ngày ấy. Ngoài ra, Nguyễn Du cũng là người đầu tiên trong thời trung đại có thể nhìn thấu được thân phận người phụ nữ có sắc, có tài mà bạc phận khi phải sống trong cuộc sống đầy sự mưu mô toan tính. =>Sáng tác của Nguyễn Du chủ yếu bao quát về nhân sinh – thế sự, ít có bài nào nói về quốc gia. Tổng hợp các thông tin về 🌿Thơ Lê Quý Đôn 🌿 Ngoài Những Bài Thơ Nguyễn Du Nguyễn Du Được Mệnh Danh Là Gì Nguyễn Du được mệnh danh là gì? Là một “ngôi sao sáng” trên bầu trời văn học cổ Việt Nam, Nguyễn Du được người Việt kính trọng tôn xưng là “Đại thi hào dân tộc” và được UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hóa thế giới”, được cả thế giới biết đến và công nhận. Tuyển tập các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Du mà bạn đọc không nên bỏ qua. *Thanh Hiên thi tập +Mười năm gió bụi 1786-1795 Sơn cư mạn hứng U cư kỳ 1 U cư kỳ 2 Tự thán kỳ 1 Tự thán kỳ 2 Bất mị Quỳnh Hải nguyên tiêu 1 Xuân nhật ngẫu hứng Tạp ngâm I Khất thực Xuân dạ Thu chí II Thu dạ kỳ 1 Thu dạ kỳ 2 Tống Nguyễn Sĩ Hữu nam quy Lưu biệt Nguyễn đại lang Hoạ Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn “Giáp Dần phụng mệnh nhập Phú Xuân kinh, đăng trình lưu biệt bắc thành chư hữu” chi tác Bát muộn Trệ khách Mạn hứng kỳ 1 Mạn hứng kỳ 2 Đại nhân hí bút Vị Hoàng doanh Độ Phú Nông giang cảm tác Hoàng Mai kiều vãn diểu Dao vọng Càn Hải từ Ký mộng Tái du Tam Điệp sơn Giang đình hữu cảm Ức gia huynh +Dưới chân núi Hồng 1796-1802 My trung mạn hứng Tặng Thực Đình Phúc Thực Đình Hành lạc từ kỳ 1 Hành lạc từ kỳ 2 Độ Long Vĩ giang Tạp thi kỳ 1 Tạp thi kỳ 2 Ký Huyền Hư tử Ký giang bắc Huyền Hư tử Ký hữu I Khai song Biệt Nguyễn đại lang kỳ 1 Biệt Nguyễn đại lang kỳ 2 Biệt Nguyễn đại lang kỳ 3 Ngoạ bệnh kỳ 1 Ngoạ bệnh kỳ 2 Đối tửu Lam giang Liệp Sơn thôn Thôn dạ Tạp ngâm kỳ 1 Tạp ngâm kỳ 2 Tạp ngâm kỳ 3 Mạn hứng Dạ hành Đạo ý Điếu La Thành ca giả Ninh Công thành +Làm quan ở Bắc Hà 1802-1804 Ký hữu II Sơ nguyệt La Phù giang thuỷ các độc toạ Ngẫu hứng kỳ 1 Ngẫu hứng kỳ 2 Thanh minh ngẫu hứng Mộ xuân mạn hứng Thanh Quyết giang vãn diểu Đồng Lư lộ thượng dao kiến Sài Sơn Đồng Lung giang Lạng Sơn đạo trung Quỷ Môn đạo trung Đề Nhị Thanh động Vọng Phu thạch Xuân tiêu lữ thứ Điệp tử thư trung Khổng tước vũ Độc Tiểu Thanh ký *Nam trung tạp ngâm +Làm quan ở kinh đô Huế 1805-1808 Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành Mộng đắc thái liên kỳ 1 Mộng đắc thái liên kỳ 2 Mộng đắc thái liên kỳ 3 Mộng đắc thái liên kỳ 4 Mộng đắc thái liên kỳ 5 Thu chí I Điệu khuyển Ngẫu thư công quán bích Ngẫu đề công quán bích kỳ 1 Ngẫu đề công quán bích kỳ 2 Tống nhân Ngẫu hứng kỳ 1 Ngẫu hứng kỳ 2 Ngẫu hứng kỳ 3 Ngẫu hứng kỳ 4 Ngẫu hứng kỳ 5 Ngẫu đề Thuỷ Liên đạo trung tảo hành +Làm quan ở Quảng Bình 1809-1812 Tân thu ngẫu hứng Dạ toạ Tặng nhân Tái thứ nguyên vận Tạp ngâm II Giang đầu tản bộ kỳ 1 Giang đầu tản bộ kỳ 2 Ngẫu đắc Pháo đài Thành hạ khí mã Vọng Thiên Thai tự Giản công bộ thiêm sự Trần kỳ 1 Giản công bộ thiêm sự Trần kỳ 2 Thu nhật ký hứng Sơn trung tức sự Độ Linh giang Nễ giang khẩu hương vọng Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên Tống Ngô Nhữ Sơn công xuất Nghệ An Đại tác cửu thú tư quy kỳ 1 Đại tác cửu thú tư quy kỳ 2 *Bắc hành tạp lục Long thành cầm giả ca Thăng Long kỳ 1 Thăng Long kỳ 2 Ngộ gia đệ cựu ca cơ Quỷ Môn quan Lạng thành đạo trung Lưu biệt cựu khế Hoàng Trấn Nam Quan Nam Quan đạo trung Mạc phủ tức sự Giáp Thành Mã Phục Ba miếu Minh giang chu phát Ninh Minh giang chu hành Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu Hoàng Sào binh mã Vọng Quan Âm miếu Tam Giang khẩu đường dạ bạc Vãn há Đại Than, tân lạo bao trướng, chư hiểm câu thất Há than hỷ phú Thái Bình thành hạ văn xuy địch Thái Bình mại ca giả Chu hành tức sự Sơn Đường dạ bạc Thương Ngô tức sự Thương Ngô mộ vũ Ngũ nguyệt quan cạnh độ Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 01 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 02 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 03 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 04 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 05 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 06 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 07 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 08 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 09 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 10 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 11 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 12 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 13 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 14 Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 15 Dương Phi cố lý Triệu Vũ Đế cố cảnh Bất tiến hành Tam Liệt miếu Quế Lâm Cù Các Bộ Quế Lâm công quán Đề Vi, Lư tập hậu Quá Thiên Bình Vọng Tương Sơn tự Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch Tương giang dạ bạc Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 1 Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 2 Phản chiêu hồn Biện Giả Trường Sa Giả thái phó Sơ thu cảm hứng kỳ 1 Sơ thu cảm hứng kỳ 2 Sở vọng Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 1 Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 2 Tương Âm dạ Đăng Nhạc Dương lâu Hoàng Hạc lâu Hán Dương vãn diểu Nhiếp Khẩu đạo trung Lý gia trại tảo phát Vũ Thắng quan Tín Dương tức sự Ngẫu hứng Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác Độ Hoài hữu cảm Văn thừa tướng Hà Nam đạo trung khốc thử Cựu Hứa Đô Âu Dương Văn Trung Công mộ Bùi Tấn Công mộ Hoàng hà Hoàng Hà trở lạo Tỉ Can mộ Trở binh hành Kê thị trung từ Nhạc Vũ Mục mộ Tần Cối tượng kỳ 1 Tần Cối tượng kỳ 2 Vương thị tượng kỳ 1 Vương thị tượng kỳ 2 Đồng Tước đài Thất thập nhị nghi trủng Lạn Tương Như cố lý Hàm Đan tức sự Hàn Tín giảng binh xứ Liêm Pha bi Tô Tần đình kỳ 1 Tô Tần đình kỳ 2 Dự Nhượng kiều chuỷ thủ hành Dự Nhượng kiều Kinh Kha cố lý Đế Nghiêu miếu Lưu Linh mộ Kỳ lân mộ Yển Thành Nhạc Vũ Mục ban sư xứ Đông lộ Quản Trọng Tam Quy đài Kê Khang cầm đài Đông A sơn lộ hành Sở Bá Vương mộ kỳ 1 Sở Bá Vương mộ kỳ 2 Liễu Hạ Huệ mộ Từ Châu đạo trung Nhị Sơ cố lý Từ Châu đê thượng vọng An Huy đạo trung Á Phụ mộ Chu Lang mộ Tổ Sơn đạo trung Quảng Tế ký thắng Đồ trung ngẫu hứng Hoàng Châu trúc lâu Vinh Khải Kỳ thập tuệ xứ Mạnh Tử từ cổ liễu Từ Châu dạ Tiềm Sơn đạo trung Đào Hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích Đào Hoa dịch đạo trung kỳ 1 Đào Hoa dịch đạo trung kỳ 2 Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài Tây Hà dịch Sở kiến hành Hoàng Mai sơn thượng thôn Hoàng Mai đạo trung Chu phát *Truyện Kiều Hồi 01 Hồi 02 Hồi 03 Hồi 04 Hồi 05 Hồi 06 Hồi 07 Hồi 08 Hồi 09 Hồi 10 Hồi 11 Hồi 12 Hồi 13 Hồi 14 Hồi 15 Hồi 16 Hồi 17 Hồi 18 Hồi 19 Hồi 20 Hồi 21 Hồi 22 *Một số tác phẩm khác Thác lời trai phường nón Văn tế thập loại chúng sinh Văn tế Trường Lưu nhị nữ Giới thiệu tuyển tập🌿Thơ Trần Tế Xương 🌿 Các bài thơ hay nhất 15 Bài Thơ Hay Nhất Của Nguyễn Du Sưu tầm 15 bài thơ hay nhất của Nguyễn Du cho bạn đọc cùng tham khảo. Độc Tiểu Thanh Ký 讀小青記 西湖花苑盡成墟,獨吊窗前一紙書。脂粉有神憐死後,文章無命累焚餘。古今恨事天難問,風韻奇冤我自居。不知三百餘年後,天下何人泣素如。 Phiên âm Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,Độc điếu song tiền nhất chỉ phấn hữu thần liên tử hậu,Văn chương vô mệnh luỵ phần kim hận sự thiên nan vấn,Phong vận kỳ oan ngã tự tri tam bách dư niên hậu,Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Dịch thơ Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang,Thổn thức bên song mảnh giấy phấn có thần chôn vẫn hận,Văn chương không mệnh đốt còn hờn kim cổ trời khôn hỏi,Cái án phong lưu khách tự biết ba trăm năm lẻ nữa,Người đời ai khóc Tố Như chăng? Ngẫu Thư Công Quán Bích 偶書公館壁 朝餐一盂飯,暮浴一盆水。閉門謝知交,開窗見荊杞。窗外荊杞蔓且長,美人悠悠隔高牆。杜宇一聲春去矣,魂兮歸來悲故鄉。 Phiên âm Triêu xan nhất vu phạn,Mộ dục nhất bồn môn tạ tri giao,Khai song kiến kinh ngoại kinh kỷ mạn thả trường,Mĩ nhân du du cách cao vũ nhất thanh xuân khứ hĩ,Hồn hề quy lai bi cố hương. Dịch thơ Sớm ăn một bát cơmChiều tắm một bồn nướcĐóng cửa tạ người quenHé song thấy gai gócGai góc ngoài song mọc ngổn ngangMỹ nhân vòi vọi cách cao tườngCuốc kêu một tiếng xuân đi mấtHồn hỡi! Về đi… thương cố hương Sơn Cư Mạn Hứng 山居漫興 南去長安千里餘,群峰深處野人居。柴門晝靜山雲閉,藥圃春寒隴竹疏。一片鄉心蟾影下,經年別淚雁聲初。故鄉弟妹音耗絕,不見平安一紙書。 Phiên âm Nam khứ Trường An thiên lý dư,Quần phong thâm xứ dã nhân môn trú tĩnh sơn vân bế,Dược phố xuân hàn lũng trúc phiến hương tâm thiềm ảnh hạ,Kinh niên biệt lệ nhạn thanh hương đệ muội âm hao tuyệt,Bất kiến bình an nhất chỉ thư. Dịch thơ Kinh đô khuất nẻo dặm ngàn xa,Giữa chốn non xanh một túp lặng cửa sài mây phủ kín,Trời xuân vườn thuốc trúc lơ quê lai láng gương thiềm rọi,Lệ cũ đầm đìa tiếng nhạn thưaXa cách các em tin tức bặtBình yên mấy chữ thấy đâu mà. U Cư Kỳ 1 幽居其一 桃花桃葉落紛紛,門掩斜扉一院貧。住久頓忘身是客,年深更覺老隨身。異鄉養拙初防俗,亂世全生久畏人。流落白頭成底事,西風吹倒小烏巾。 Phiên âm Đào hoa, đào diệp lạc phân phân,Môn yểm tà phi nhất viện cửu đốn vong thân thị khách,Niên thâm cánh giác lão tuỳ hương dưỡng chuyết sơ phòng tục,Loạn thế toàn sinh cửu uý lạc bạch đầu thành để sự,Tây phong xuy đảo tiểu ô cân. Dịch thơ Hoa lá vườn đào rụng tả tơi,Một nhà bần bạc cổng xiên lâu quên bẵng mình dân ngụ,Sống mãi hay đâu tuổi lão rồi!Đất khách giả ngây phòng kẻ tục,Giữ mình thời loạn sợ lòng đinh đầu bạc không nên chuyện,Ngọn gió tây thổi chiếc khăn rơi. U Cư Kỳ 2 幽居其二 十載風塵去國賒,蕭蕭白髮寄人家。長途日暮新遊少,一室春寒舊病多。壞壁月明蟠蜥蜴,荒池水涸出蝦蟆。行人莫誦登樓賦,強半春光在海涯。 Phiên âm Thập tải phong trần khứ quốc xa,Tiêu tiêu bạch phát ký nhân đồ nhật mộ tân du thiểu,Nhất thất xuân hàn cựu bệnh bích nguyệt minh bàn tích dịch,Hoang trì thuỷ hạc xuất hà nhân mạc tụng “Đăng lâu phú”,Cưỡng bán xuân quang tại hải nha nhai. Dịch thơ Gió bụi mười năm biệt cố hươngBơ phờ đầu bạc, đất người nươngBệnh nhiều, xuân lạnh, nhà đơn chiếcBạn ít, chiều sang, bước dặm sáng, thạch sùng leo vách nát,Nước khô, ếch nhái nhảy đầm đường chớ đọc Đăng lâu phúQuá nửa đời người giạt một phương. Dạ Toạ 夜坐 四壁蛩聲鬧夜眠,矮床移向曲欄邊。微風不動霜垂地,斜月無光星滿天。今古閒愁來醉後,蓴鱸鄉思在秋先。白頭所計惟衣食,何得狂歌似少年? Phiên âm Tứ bích cùng thanh náo dạ miên,Ải sàng di hướng khúc lan phong bất động sương thuỳ địa,Tà nguyệt vô quang tinh mãn cổ nhàn sầu lai tuý hậu,Thuần lô hương tứ tại thu đầu sở kế duy y thực,Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên! Dịch thơ Đêm trường bốn vách dế kêu thanKéo lại gần hiên chiếc chõng nanSương phủ đất mờ cơn gió thoảngSao đầy nguyệt xế bóng đêm tànXưa nay cạn chén sầu khơi dậyLau, ngót nhớ mùi thu chửa sangCơm áo mãi lo đầu đã bạcĐâu thời niên thiếu hát ca vang! Biện Giả 辯賈 不涉湖南道,安知湘水深。不讀懷沙賦,安識屈原心。屈原心湘江水,千秋萬秋清見底。古今安得同心人,賈生一賦徒為耳。烈女從來不二夫,何得栖栖相九州。未必古人知有我,眼中湘水空悠悠。 Phiên âm Bất thiệp Hồ Nam đạo,An tri Tương Thuỷ thâm?Bất độc Hoài sa phúAn thức Khuất Nguyên tâm?Khuất Nguyên tâm, Tương giang thuỷ,Thiên thu vạn thu thanh kiến kim an đắc đồng tâm nhân,Giả sinh nhất phú đồ vi nữ tòng lai bất nhị phu,Hà đắc thê thê “tướng cửu châu”.Vị tất cổ nhân tri hữu ngã,Nhãn trung Tương Thuỷ, không du du! Dịch thơ Hồ Nam chưa đi tớiSao biết sông Tương sâuPhú Hoài Sa chưa đọcLòng Khuất Nguyên biết Nguyên đau, sông Tương chảyTrong vắt muôn đời nhìn thấy đáyMấy ai có được bạn đồng tâmBài phú Giả sinh vô nghĩa ấy!Liệt nữ xưa nay chỉ một chồngChín châu hà tất kiếm long đongCó ta chưa hẳn người xưa biếtLờ lững sông Tương trong mắt trong. Há Than Hỷ Phú 下灘喜賦 心香拜禱將軍祠,一掉中流肆所之。到處江山如識趣,喜人蛇虎不施威。萬株松樹僧人屋,一帶寒煙燕子磯。寂寂船窗無箇事,漁歌江上看斜暉。 Phiên âm Tâm hương bái đảo tướng quân tỳ từ,Nhất trạo trung lưu tứ sở xứ giang sơn như thức thú,Hỷ nhân xà hổ bất thi châu tùng thụ tăng nhân ốc,Nhất đới hàn yên Yến Tử ky cơ.Tịch tịch thuyền song vô cá sự,Ngư ca giang thượng khán tà huy. Dịch thơ Thành khẩn dâng hương vái trước đềnMột thuyền theo nước cứ lênh đênhMừng người rắn cọp không làm dữThích cảnh non sông như đã quenMuôn cụm tùng xanh sư trú ngụMột Hòn Én lạnh khói dâng lênBên song lặng lẽ không gì bậnNghe khúc chài ca, ngó nắng nghiêng. Vị Hoàng Doanh 渭潢營 渭潢江上渭潢營,樓櫓參差接太青。古渡斜陽看飲馬,荒郊靜夜亂飛螢。古今未見千年國,形勢空留百戰名。莫向清華村口望,疊山不改舊時青。 Phiên âm Vị Hoàng giang thượng Vị Hoàng doanh,Lâu lỗ sâm si tiếp thái độ tà dương khan ẩm mã,Hoang giao tĩnh dạ loạn phi kim vị kiến thiên niên quốc,Hình thế không lưu bách chiến hướng Thanh Hoa thôn khẩu vọng,Điệp Sơn bất cải cựu thì thanh. Dịch thơ Doanh trại Vị Hoàng bên mé sông,Nhấp nhô lầu gác ngất tầng tà ngựa uống ran ngoài bến,Đêm vắng, huỳnh bay rợp nẻo đại ngàn năm xưa vẫn hiếm,Thế hình trăm trận vẫn còn về phía xóm Thanh Hoa ấy,Tam Điệp xanh xanh núi trập trùng. My Trung Mạn Hứng 縻中漫興 鐘子援琴操南音,莊錫病中猶越吟。四海風塵家國淚,十旬牢獄死生心。平章遺恨何時了,孤竹高風不可尋。我有寸心無與語,鴻山山下桂江深。 Phiên âm Chung Tử viên cầm tháo nam âm,Trang Tích bệnh chung do Việt hải phong trần gia quốc lệ,Thập tuần lao ngục tử sinh Chương di hận hà thì liễu,Cô Trúc cao phong bất khả hữu thốn tâm vô ngữ dữ,Hồng Sơn sơn hạ Quế giang thâm. Dịch thơ Chung Tử so đàn gảy khúc Nam,Chàng Trang tiếng Việt ốm còn trần bốn biển non sông khóc,Lao ngục mười tuần sống thác hận Bình Chương bao thưở hết?Tấm gương Cô Trúc khó nơi lòng ta biết cùng ai tỏHồng Quế cao sâu phỏng mấy tầm. Đối Tửu 對酒 趺坐閒窗醉眼開,落花無數下蒼苔。生前不盡樽中酒,死後誰澆墓上杯。春色漸遷黃鳥去,年光暗逐白頭來。百期但得終朝醉,世事浮雲真可哀。 Phiên âm Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,Lạc hoa vô số há thương tiền bất tận tôn trung tửu,Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi?Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ,Niên quang ám trục bạch đầu kỳ đãn đắc chung triêu tuý,Thế sự phù vân chân khả ai. Dịch thơ Ngồi bên cửa sổ mắt đờ say,Trên thảm rêu xanh hoa rụng đã không vơi bầu rượu được,Chết rồi ai rưới mộ mình đây?Sắc xuân dần đổi, chim vàng lánh,Năm tháng ngầm xui tóc bạc được trăm năm say khướt mãi,Việc đời mấy nỗi, nghĩ buồn thay! Sơn Thôn 山村 萬山深處絕風塵,錯落柴門閉暮雲。長者衣冠猶是漢,山中甲子迥非秦。牧兒角搥荒郊暮,汲女筒連玉井春。那得跳離浮世外,長松樹下最宜人。 Phiên âm Vạn sơn thâm xứ tuyệt phong trần,Thác lạc sài môn bế mộ giả y quan do thị Hán,Sơn trung giáp tí quýnh phi nhi giác chuỷ hoang giao mộ,Cấp nữ đồng liên ngọc tỉnh đắc khiêu ly phù thế ngoại,Trường tùng thụ hạ tối nghi nhân. Dịch thơ Tuyệt không gió bụi chốn rừng sâu,Rải rác mây chiều khép cửa mũ người sang còn Hán nhỉ,Tháng năm trong núi phải Tần đâu?Đồng hoang chú mục sừng khua gõ,Giếng ngọc cô em nước múc dược thoát ra ngoài cõi tục,Bóng tùng hóng mát thú dường bao! Khổng Tước Vũ 孔雀舞 孔雀腑懷毒,誤服不可醫。外露文章體,中藏殺罰機。人誇容指善,我惜羽毛奇。鶴海亦會舞,不與世人知。 Phiên âm Khổng tước phủ hoài độc,Ngộ phục bất khả lộ văn chương thể,Trung tàng sát phạt khoa dung chỉ thiện,Ngã tích vũ mao hải diệc hội vũ,Bất dữ thế nhân tri. Dịch thơ Không thuốc nào chữa được,Khi ngộ độc gan đẹp lộ ngoài mã,Chất độc giấu trong thường khen cái dáng,Ta chỉ tiếc bộ bể cũng biết múa,Không cho người đời trông. Chu Lang Mộ 周郎墓 燒盡曹家百萬兵,丈夫差得慰平生。同年交誼聯孫策,一世知音得孔明。瓦礫吳宮荒帝業,荊蓁古墓上雄名。二喬香骨藏何所,眼見銅臺半已傾。 Phiên âm Thiêu tận Tào gia bách vạn binh,Trượng phu sai đắc uý bình niên giao nghị liên Tôn Sách,Nhất thế tri âm đắc Khổng lịch Ngô cung hoang đế nghiệp,Kinh trăn cổ mộ thượng hùng Kiều hương cốt tàng hà sở,Nhãn kiến Đồng đài bán dĩ khuynh. Dịch thơ Đốt sạch quân Tào trăm vạn binhTrượng phu đủ thỏa chí bình sinhĐồng niên bạn rể cùng Tôn SáchMột thuở tri âm có Khổng MinhNgói vụn cung Ngô tàn nghiệp đếGai tràn mộ cổ nức hùng danhHai Kiều hương cốt vùi đâu mấtMắt thấy Đồng đài đã nửa nghiêng Truyện Kiều – Hồi 01 Trăm năm trong cõi người ta,Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét qua một cuộc bể điều trông thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong,Trời xanh quen thói má hồng đánh thơm lần giở trước đèn,Phong tình có lục còn truyền sử năm Gia Tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững nhà viên ngoại họ Vương,Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung,Một trai con thứ rốt lòng,Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia. Đầu lòng hai ả tố nga,Thuý Kiều là chị, em là Thuý cốt cách, tuyết tinh người một vẻ, mười phân vẹn xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở cười, ngọc thốt, đoan trang,Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu càng sắc sảo mặn mà,So bề tài sắc vẫn là phần hơn. Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém hai nghiêng nước nghiêng thành,Sắc đành đòi một, tài đành hoạ minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca thương làu bậc ngũ âm,Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một nhà tay lựa nên chương,Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân. Phong lưu rất mực hồng quần,Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kêÊm đềm trướng rủ màn che,Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Tìm hiểu chi tiết về 🔰Thơ Nguyễn Công Trứ 🔰Bên Cạnh Thơ Nguyễn Du Những năm 1940, nhà ᴠăn Trương Tửu - một trong những tác giả ᴠiết nhiều nhất ᴠề Truуện Kiều ở Việt Nam, nhận định “Nguуễn Du là một con bệnh thần kinh”. Hơn 10 năm ѕau, ông ᴠiết ѕách thừa nhận “Tôi đã ѕai lầm!”.Bạn đang хem Nhận định ᴠề nguуễn duTrương Tửu nằm trong nhóm học giả đầu tiên được phong hàm Giáo ѕư của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cùng ᴠới Đặng Thai Mai, Đào Duу Anh, Nguуễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Cao Xuân Huу, Trần Văn Giàu…Nhà ᴠăn, nhà giáo Trương TửuPhát biểu đầu tiên trong tọa đàm, GS Phong Lê ngaу lập tức nhắc đến chủ đề quan trọng nhất trong những trang ᴠiết của Trương Tửu ᴠới tư cách nhà phê bình ᴠăn học. Đó là "Truуện Kiều ᴠà Nguуễn Du" 1943.Trương Tửu từng хuất bản 2 cuốn ѕách phê bình "Nguуễn Du ᴠà Truуện Kiều" ᴠà "Văn chương Truуện Kiều" 1944 ᴠới bút danh Nguуễn Bách đó, ông gaу gắt phê phán “Nguуễn Du là một con bệnh thần kinh”, ông cho rằng Truуện Kiều là kết tinh của “3 уếu tố ѕuу đồi” của Nguуễn Du, đó là “ѕinh hoạt cằn cỗi ᴠà ѕáo loạn, một tư tưởng hèn nhát ᴠà ủу mị, một tâm lý tùу thời ᴠà ích kỷ”.Xem thêm Ca Dao Tục Ngữ Nói Về Lòng Nhân Hậu ❤️️Ý Nghĩa Nhất, Tìm Và Ghi Lại Thành Ngữ, Tục Ngữ Về Lòng Nhân ÁiNhận định của Trương Tửu ᴠề Truуện Kiều khi đó ᴠấp phải ѕự phản đối gaу gắt của các học giả khác như Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh… Hơn 10 năm qua đi ᴠới bao nghiền ngẫm, đến năm 1956, Trương Tửu mới ᴠiết chuуên khảo mới có tên "Truуện Kiều ᴠà thời đại Nguуễn Du", ông thẳng thắn thừa nhận cách nhìn ѕai lầm ngàу thừa nhận “Tôi đã cố gắng phân tích ᴠà phê phán Truуện Kiều theo quan điểm đấu tranh giai cấp. Nhưng ᴠì trình độ lý luận còn ấu trĩ, lập trường chính trị còn lệch lạc… nên đã có những nhận định ѕai lầm căn bản”. Ông cũng nhận định lại “Tác giả Truуện Kiều đứng ᴠề phía các tầng lớp nhân dân chống phong kiến đương thời” ᴠà “Nguуễn Du là một nghệ ѕĩ thực ѕự ᴠĩ đại”.Mặc dầu còn ᴠương ít nhiều trong hệ thống tư tưởng duу tâm, ѕiêu hình của phong kiến - điều nàу chúng ta cần phải phên phán - Truуện Kiều căn bản ᴠẫn là một tác phẩm ᴠăn học nhân dân, tiến bộ, một tác phẩm cổ điển tiêu biểu của ᴠăn học dân thêm Lịch Tập Nhảу Dâу Tăng Chiều Cao Không ? 3 Cách Tập Tại Nhà Hiệu Quả NhấtNhân dân Việt Nam lấу làm ᴠinh dự có Nguуễn Du, có Truуện Kiều. Chúng ta ᴠô cùng biết ơn ᴠà kính mến thi ѕĩ thiên tài của dân tộc.Trương Tửu, 1956Theo nhà giáo Nguуễn Cảnh Tuấn ᴠiết trong tham luận ᴠề Trương Tửu, lúc ᴠề già, nhà ᴠăn ᴠẫn không hết dằn ᴠặt. Ông từng tâm ѕự “Đến bâу giờ tôi ᴠẫn chưa ᴠiết hết, ᴠẫn còn nợ cô Kiều. Hoàn cảnh thời cuộc, naу mới có dịp trả nợ thì tuổi đã cao, ѕức đã уếu”.Cuốn ѕách Trương Tửu - Tuуển tập nghiên cứu ᴠăn hóa do PGS-TS Nguуễn Hữu Sơn Viện Văn học biên ѕoạn ra mắt nhân 100 năm ngàу ѕinh nhà ᴠăn

câu thơ về nguyễn du